Sài hồ vị thuốc phát tán phong nhiệt

Sài Hồ là gì?

Sài Hồ là vị thuốc sử dung trong Đông Y, có công dụng vào kinh Thiếu dương hòa giải xu cơ (bán biểu bán lý), sơ thông can khí, thăng đề khí thanh dương. Hiện tại có 2 loại Sài Hồ được sử dụng đó là:

Sài hồ Bắc (Bupleurum chinense DC)

Hay còn có tên gọi khác là Trúc diệp sài hồ, Bắc sài hồ và Sà diệp sài hồ. Thuộc họ Hoa tán (Umbelliferae). Sài hồ mọc thành bụi, cao khoảng 0.5 – 3m. Cây phân nhánh ở gốc và mọc tỏa ra xung quanh. Thân non có màu xanh và được phủ một ít lông mịn, khi già, bề mặt nhẵn, có màu hơi tía hoặc xanh nâu. Phiến lá hình thìa, mọc so le, phiến là dày, mép có răng cưa, mặt dưới nhạt màu, mặt lá trên láng bóng. Lá cây sài hồ có mùi thơm hắc. Hoa mọc thành cụm ở đầu cành. Quả có mào lông không rụng, quả chia thành 10 cạnh. Rễ có màu vàng ngà, dai, có vị đắng, mùi thơm.

Cây Sài hồ Bắc có nguồn gốc từ nước Trung Quốc và Nhật Bản. Loại cây này được di thực về nước ta từ năm 1994. Hiện nay, cây Sài hồ Bắc mọc hoang rải rác ở một số tình thành thuộc phía Bắc nước ta

Lá và rễ được thu hái quanh năm. Sau khi thu hoạch đem cắt bỏ rễ con, rửa sạch đất cát và tạp chất, sau đó sấy hoặc phơi khô. Khi dùng, có thể tẩm mật hoặc tẩm rượu sao thơm. Lá thường được dùng tươi hoặc phơi khô, nấu thành cao.

Trong cây Sài hồ Bắc có chứa một ít tinh dầu, 0,50% hoạt chất saponin, một chất rượu gọi là bupleurumola và phytosterola. Ngoài ra, trong thân và lá cây Sài hồ Bắc còn chứa hoạt chất rutin.

Cây Sài Hồ Bắc

Sài hồ Nam (Pluchea pteropoda Hemsl)

Hay còn có tên gọi khác là Cúc tần biển, cây lức, nam sài hồ, hải sài,… Thuộc họ Cúc (Asteraceae).

Là cây thân thảo, có chiều cao khoảng 40 – 60 cm và sống lâu năm. Thân cây có hình trụ nhẵn, màu nâu đỏ và phân cành nhiều ở ngọn. Lá cây có hình trứng ngược hoặc hình bầu dục, rộng 1 – 2cm và dài khoảng 2 – 4cm, mép lá có răng, mặt nhẵn và có mùi thơm hắc. Hoa mọc ở kẽ lá, hầu như không có cuống và thường có màu hồng. Quả có 10 cạnh lồi và có hình trụ. Cây ra hoa và sai quả vào tháng 5 – 7 hằng năm.

Phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Campuchia và một số quốc gia khác ở Châu Á. Sài hồ nam sinh sống chủ yếu ở tỉnh ven biển và mọc ở các cửa sông, ven đường đi, bờ kênh rạch, bờ ruộng,…

Rễ được thu hái quanh năm. Sau khi đào rễ lên, dùng dao cắt bỏ các rễ con, rửa sạch, sau đó đem sấy hoặc phơi khô. Khi dùng có thể dùng rễ tẩm mật ong hoặc tẩm rượu, sao vàng cho thơm.

Sài hồ nam có chứa 0,5% hoạt chất saponin như: Daikogenin, Saikosaponin, Longgispinogenin, cùng một số nhóm acid như: Oleic aicd, Linoleic acid, Stearic acid, Palmatic acid, Liginoceric acid. Riêng Pentanoic acid chiếm khoảng 0,15% trong cây sài hồ nam

Cây Sài Hồ Nam

Cả 2 loại đều có tên giống nhau nhưng chúng hoàn toàn khác nhau và không thuộc cùng một họ.

Tên dùng trong đơn thuốc

  • Sài hồ, Xuân sài hồ, Hồng sài hồ, Trúc diệp sài hồ (sài hồ dạng Trúc diệp), Xuyên sài hồ, Bắc sài hồ, Nhuyễn sài hồ, Sài hồ sao rượu, Sài hồ sao dấm, Sài hồ sao tiết ba ba.
  • Tên Latin: Radix Bupleuri
  • Tên Pinyin: Chaihu
  • Tên tiếng Hoa: 柴胡

Phần cho vào thuốc

Rễ hoặc cả cây.

Bào chế

Dùng sống, hoặc sao với dấm bằng cách trộn đều Sài hồ thái rồi với dấm (dấm gạo) cho vào nồi, chảo (nồi rang) sao nhỏ lửa đến khi khô dấm là được. Sao với tiết ba ba, bằng cách, cho sài hồ thái phiến vào chậu, cho một ít nước ấm vào tiết ba ba quấy loãng ra, trộn đều với Sài hồ, sao nhỏ lửa, để nguội là được. .

Tính vị quy kinh

Vị đắng, tính bình, hơi lạnh. Vào hai kinh can, đởm.

Công dụng

Thuốc dẫn vào kinh Thiếu dương hòa giải xu cơ (bán biểu bán lý), sơ thông can khí, thăng đề khí thanh dương.

Chủ trị

1 – Các chứng sốt nóng sốt rét thuộc kinh Thiếu dương, [89] ngực sườn đau, đầy ách, miệng đắng, họng khô, mắt hoa, tai ù điếc, nôn ọe, và người bị ngược tật (sốt rét) có đau ở mạn sườn. Đàn bà bị chứng nhiệt nhập huyết thất, cũng có thể dùng được người xưa có 3 cách giải thích về huyết thất: 1) Chỉ xung mạch. 2) Chỉ can tạng. Vì can chủ huyết hải, can tàng huyết. 3) Chỉ tử cung ND).

2 – Chữa các chứng của người đàn bà thất tình không điều hòa (bẩy tình cảm và ý chí của người ta: hỷ, nộ, ưu tư, bi, khủng, kinh = mừng, giận, lo, nghĩ, thương, sợ hãi), tinh hay lo nghĩ, uất ức (dồn nén) tổn thương con, can khí đi ngang đi ngược; gây ra ngực sườn căng đau hoặc kinh nguyệt không đều.

3 – Có thể chữa các chứng khí hạ hãm (khí hư hạ hãm hay còn gọi là tỳ khí hạ hãm) bụng dưới nặng căng, lòi dom, sa dạ con

Ứng dụng và phân biệt

1 – Sài hồ chứa nhiệt tà ở bán biểu bán lý, sốt nóng sốt rét thuộc kinh Thiếu dương. Quế chi chữa tà ở dinh vệ, sốt nóng sợ lạnh thuộc chứng ở biểu kinh Thái dương. Cát căn chữa tà ở lớp cơ, bệnh thuộc kinh Dương minh chỉ nóng không lạnh.

2 – Ngân sài hồ (sản xuất ở Ngân châu) có thể thanh giải hư nhiệt ở âm phận, Nhuyễn sài hồ (sản xuất ở Tứ xuyên) thì phát tán sốt nóng do ngoại cảm gây nên.

Ngân Sài Hồ

3 – Sài hồ chia ra các loại Xuân sài hồ, Hồng sài hồ, Nhuyễn sài hồ, Trúc diệp sài hồ, được phân loại theo hình  thái của vị thuốc. Xuyên sài hồ, Bắc sài hồ, Ngân Sol – được phân loại theo vùng sản xuất. Sài hồ sao dấm và Sal hồ sao với tiết ba ba, là phân loại theo bào chế. Công dụng chỉ khác nhau chút ít, còn phần lớn là giống nhau.

Trúc Diệp Sài Hồ

Kiêng kỵ

Những người hư nhược khí nghịch lên gây nôn ọe và âm hư hỏa vượng, cấm dụng. Nếu khí tà còn ở phần khí không nên dùng sớm, nếu không thì có thể dẫn tà khí vào sâu. –

Liều lượng

3 đồng cần đến 5 đồng cân.

Bài thuốc ví dụ

Bài Tiểu Sài hồ thang (bài thuốc trong Thương hàn luận) chữa chứng Thiếu dương, sốt nóng, sốt rét, ngực sườn đau đầy, tâm phiền nôn ọe. .

Gồm: Sài hồ, Hoàng cầm, Bán hạ, Nhân sâm, Chích cam thảo, Đại tảo (khía), Sinh khương. Cho nước vào sắc trước những vị nói trên, bỏ bã, sắc lại rồi uống ấm.

Tham khảo: Trong đơn thuốc có người viết chữ Tử hồ, Tử là chữ Sài đời xưa, tức là Sài hồ, không có loại nào khác cả.