Thần khúc công dụng và tính vị quy kinh

Tên dùng trong đơn thuốc

Thần khúc, Lục thần khúc, Kiến khúc, Kiến thần khúc, Tiêu thần khúc, (Thần khúc sao đen), Sao thần khúc, Phạm chí khúc.

Bào chế

Thần khúc là vị thuốc gia công sản xuất bằng 6 vị thuốc: Mì trắng, Xích đậu, Hạnh nhân, Thanh hao, Thương nhĩ, Da liễu, càng để lâu càng tốt, sao lên dùng (Dà liễu là Rau nghề hoặc rau Răm dại chưa rõ N.D.)

Tính vị quy kinh

Vị ngọt, cay, tính ôn. Vào hai kinh: tỳ vị.[600]

Công dụng

Tiêu cơm hành khí, phát tán tà ở biểu, điều hòa ở lý (phát biểu hòa lý).

Chủ trị

Chữa ăn uống tích trệ, đầy trướng, ỉa chảy, đi lỵ, phát nhiệt.

Ứng dụng và phân biệt

Tương truyền là vị thuốc này chế vào ngày 5 tháng 5 hoặc ngày 6 tháng 6 âm lịch thì rất thần hiệu, cho nên gọi là thần khúc. Vì trong đó gồm có 6 vị thuốc, nên còn gọi là Lục thần khúc. Nguyên sản xuất ở Phúc Kiến, nên lại gọi là Kiến thần khúc. Thần khúc của Phạm – Chị làm ra rất tốt, nên có tên là Phạm – Chí khúc. Sau đó người ta cứ mở rộng ra, hoặc gia Trầm hương để chữa về khí, gọi là Trầm hương khúc. Gia Bán hạ để hóa đờm gọi là Bán hạ khúc, hoặc gia thịt bò để kiện vị gọi là Hà thiên khúc, hoặc gia Hạnh nhân để chữa ho gọi là Hàn thực khúc. Trong đó phổ biến nhất là Lục thần khúc. Giải biểu tiêu thực mạnh là Kiến thần khúc. Vì trong đó ngoài 6 vị thuốc ra, người ta còn cho thêm mấy chục vị thuốc khác nữa.

Kiêng kỵ

Nếu tràng vị không có ăn uống đầy trệ thì kiêng dùng.

Liều lượng

1 đồng cần đến 3 đồng cân hoặc nửa bánh đến một bánh.

Bài thuốc ví dụ

Bài Lục thần hoàn (Chứng trị chuẩn thằng phương) chữa Xích bạch lỵ.

Thần khúc, Mạch nha, Phục linh, Chỉ xác, Mộc hương, Hoàng liên, các vị tán nhỏ, riêng Thần khúc tán bột nấu với hồ, trộn với thuốc làm viên to như hạt ngô, uống với nước sôi, chữa chứng Xích bạch lỵ.

Tham khảo

Thần khúc, Mạch nha, Sơn tra, ca sao đen cùng phối hợp dùng với nhau, gọi là Tiêu tan tiêu.

(Theo: Đông dược học thiết yếu)