Toàn phúc hoa vị thuốc tiêu đờm, hạ khí

Giới thiệu Toàn phúc hoa

Toàn phúc hoa là cây sống nhiều năm, cao 30 – 80cm. Thân màu lục hoặc màu tía. Lá ở bộ phận giữa thân cây, hình thuôn hoặc hình tròn dài, đầu mũi mác. Lá hầu như không có cuống, phiến lá nguyên hoặc khía răng cưa. Mặt trên ít lông hoặc không có lông, mặt dưới có lông nhỏ như bông.

Cụm hoa hình đầu, bao chúng hình bán cầu, hoa có cánh hình màu vàng. Quả nang hình trụ tròn.

Mùa hoa: tháng 6 – 10; mùa quả: 9 – 11.

Toàn phúc hoa Mùa hoa: tháng 6 – 10

Tên dùng trong đơn thuốc 

Toàn phúc hoa, Kim phí hoa, Kim phí thảo, Toàn phúc hoa.

Phần cho vào thuốc

Hoa hoặc toàn thảo.

Bào chế

Chọn bỏ tạp chất, sàng bỏ sạch đất là được.

Tính vị quy kinh

Vị mặn, tính ôn. Vào hai kinh phế, đại tràng.

Công dụng

Tiêu đờm, hạ khí.

Chủ trị

1 – Mặn làm mềm được vật rắn (nhuyễn kiên) hóa đờm, tẩy rửa nước uống bị đình trệ, chữa vùng ngực kết đờm, vùng dưới tâm bí rắn lại.

2- Tính hay đi xuống, chủ trị ợ hơi không khỏi.

Ứng dụng và phân biệt

Các loài hoa phần nhiều là nhẹ, thiên về đi lên, duy đặc thù của hoa này lại đi xuống.

Kiêng kỵ

Người bị ho suyễn do ngoại tà không nên dùng sớm (vội), lại có người bị suy nhược không phải là thực tà thì không nên dùng.

Liều lượng

Một đồng cần đến ba đồng cân.

Bài thuốc ví dụ

Bài Toàn phúc đại giả thạch thang (Bài thuốc trong Thương hàn luận) chữa thương hàn sau khi đã cho ra mồ hôi, cho nôn, cho tả hạ (hãn, thổ, hạ), vùng dưới tâm bí kết cứng, ợ hơi không khỏi.

Gồm: Toàn phúc hoa, Đại giả thạch, Nhân sâm, Sinh khương, Bán hạ (chế), Chích cam thảo, Đại tảo. Những vị thuốc trên cho vào sắc lên, bỏ bã, sắc lại rồi chia ra uống ấm.

Tham khảo

Khi cho vị thuốc này vào sắc lên, phải lấy lụa bọc lại, vì nó có lông tơ (nhỏ) sợ đâm vào phổi làm người ta bị ho. Nếu là hoa thì gọi là Toàn phúc hoa, nếu là lá thì gọi là Kim phí thảo.